Ai “lao đầu vào các phương trình của vũ trụ”?

Trong bài báo ngày 6/1/2013 của tác giả Hoàng Tuân trên báo Chất lượng Việt Nam có một đoạn như sau:

“Trước đó, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước cho rằng, Việt Nam cần quan tâm, phát triển khoa học ứng dụng như nông nghiệp, dự báo thời tiết, nghiên cứu biển… hơn là đầu tư vào khoa học cơ bản vì kết quả của nó có thể Việt Nam chưa “hấp thụ” nổi, mà lại được ứng dụng cho các nước giàu.

Hiện nay, theo tìm hiểu của Chất lượng Việt Nam, ngành dự báo thời tiết rất cần những người giỏi Toán và Vật lý để lập ra các mô hình thời tiết, mô phỏng giống thực tế, để dự báo tốt các cơn bão và thảm họa thiên nhiên khác.

Tuy nhiên, nhiều người giỏi Toán và Lý lại đang “lao đầu” vào các phương trình của vũ trụ và các “bổ đề” mà khi giải được, các nước tiên tiến sẽ dùng nó đầu tiên.”

Là một người nghiên cứu khoa học cơ bản và ủng hộ phát triển khoa hoc cơ bản ở Việt Nam, có lẽ tôi không thể hoàn toàn vô tư khi đưa ra ý kiến của mình trong vấn đề chính sách phát triển khoa học. Tuy nhiên, tôi vẫn muốn chia sẻ một vài ý kiến xuất phát từ kinh nghiệm làm việc và tham gia tổ chức khoa học ở một số nước phát trển.

Vấn đề phân bổ nguồn tài chính giữa các ngành khoa học mà bài báo đưa ra là một vấn đề quan trọng của mỗi quốc gia, và tìm ra được một giải pháp đúng đắn cho vấn đề này không phải là dễ, kể cả với các nước phát triển.

Ngay ở những nước tiên tiến như Mỹ, những nghiên cứu như “bổ đề cơ bản” hay vật lý lý thuyết cũng còn phải rất lâu mới có thể được ứng dụng vào thực tế. Những nước này đầu tư vào việc đào tạo các nhà khoa học và nghiên cứu khoa học cơ bản một phần vì các nhà khoa học là “những người giữ ngọn lửa”, duy trì tri thức của nhân loại. Những người đó có đóng góp vào sự phát triển kinh tế trước mắt, nhưng thường là gián tiếp, không phải trực tiếp. Và các nhà khoa học phải làm việc với các nhà hoạch định chính sách và chỉ có thể có được nguồn đầu tư dài hạn hay hàng năm vào các dự án khoa học cơ bản nếu chứng minh được tầm quan trọng của chúng với xã hội. Tuy nhiên, ở những nước này, quan điểm chung là sự phát triển của khoa học cơ bản là đầu tàu để có những đột phá trong công nghệ, và đó là động lực để thúc đẩy nền kinh tế tiến lên. Dó đó, chính sách đầu tư vào đào tạo và nghiên cứu khoa học cơ bản cùng với đầu tư vào phát triển công nghệ, cả ngắn hạn và dài hạn, luôn được ủng hộ bằng một nguồn tài chính tương đối ổn định từ ngân sách.

Một nước nghèo muốn tiến lên thành một nền kinh tế phát triển bền vững khó có thể đạt được điều đó mà không phát triển khoa học công nghệ. Nhưng muốn thế thì phải có một chính sách phát triển khoa học và công nghệ cân bằng và ổn định. Những người trẻ tuổi khi tốt nghiệp phổ thông và chọn học ngành công nghệ sinh học chẳng hạn, phải biết rằng sau khi tốt nghiệp, họ sẽ tìm được công việc trong ngành đó. Tương tự, một sinh viên tốt nghiệp ngành toán lý thuyết phải biết rằng anh ta sẽ tiếp tục được nghiên cứu toán khi học xong. Không thể chỉ đầu tư vào chương trình giáo dục mà bỏ bễ việc đầu tư vào nghiên cứu khoa học hay phát triển công nghệ, tức phát triển thị trường lao động để sử dụng các nhà khoa học, dù lý thuyết hay ứng dụng, khi họ tốt nghiệp. Bởi vì với sự toàn cầu hoá của kinh tế thế giới, những người được đào tạo không tìm thấy việc làm ở một nước sẽ dễ dàng chuyển đi nước khác. Và những nước có chính sách thu hút và khuyến khích những người có năng lực sẽ là kẻ thắng cuộc.

Có rất nhiều vấn đề cần phải được giải quyết trong việc thiết kế chính sách khoa học và quản lý khoa học ở Việt Nam. Một thực tế của Việt nam là không phải chỉ có những người nghiên cứu lý thuyết, mà cả những người nghiên cứu ứng dụng, trong đó có cả ứng dụng nông nghiệp hay dự báo thời tiết, cũng tìm được công việc ở nước ngoài. Và lý do rõ ràng không phải vì họ “giỏi toán giỏi lý, nhưng lại lao vào nghiên cứu bổ đề cơ bản hay lý thuyết vũ trụ mà khi giải được sẽ chỉ được các nước giàu sử dụng”, như bài báo nêu. Có rất nhiều người Việt Nam giỏi toán giỏi lý, không nghiên cứu toán hay vật lý lý thuyết, mà vẫn ra nước ngoài để làm việc.  Tại sao lại như vậy?

Có thể nêu một trong những lý do chính dẫn đến tình huống này. Đó là sự thiếu vắng của một tầm nhìn xa, một bức tranh tổng thể, một chính sách dài hạn về tương lai của khoa học và mối tương quan giữa giáo dục, đào tạo với phát triển công nghệ, và giữa khoa học công nghệ với các ngành kinh tế khác; sự yếu kém trong hợp tác giữa các ngành, v.v. Những vấn đề này cần được giải quyết ở mức chính sách, khi các nhà hoạch định chính sách cùng làm việc với các nhà khoa học cơ bản và ứng dụng, những nhà hoạt động kinh tế v.v. để đưa ra một chiến lược phát triển bền vững và dài hạn. Và khi chiến lược này được thông qua, thì nguồn đầu tư cho nó phải ổn định. Ổn định về chính trị chưa đủ để phát triển khoa học. Ít nhất phải có thêm sự ổn định về chính sách. Không thể hôm nay chú trọng ngành than, ngày mai tập trung vào công nghệ sinh học. Những bàn luận manh mún vào thời điểm này không thể dẫn đến một giải pháp hữu hiệu.

Một trong những điều chúng ta có thể làm ngay để thu hút nguồn lực khoa học từ nước ngoài trong thời điểm này là sử dụng các cơ quan khoa học đang hoạt động tốt như Viện von Neumann hoặc Viện Toán Cao cấp. Những Viện này đã có những chương trình hỗ trợ cho khoa học ứng dụng, ví dụ vào mùa hè vừa qua ở Viện Toán Cao cấp đã có một hoạt động về “học máy” (machine learning), thu hút được nhiều người tham gia, từ nước ngoài và trong nước. Theo tôi, đây là những hạt giống cho một chiến lược phát triển dài hạn.

11 responses to “Ai “lao đầu vào các phương trình của vũ trụ”?

  1. Mô hình dự báo thời tiết trên thế giới có rất nhiều, Trung tâm dự báo của VN đủ sức để đưa vào tính toán. Tuy nhiên mô hình nào muốn có độ chính xác cao cũng cần phải có máy tính mạnh. Sau bao nhiêu năm làm dự án (từ 2009 đến giờ – sau khi bị đưa lên Gặp nhau Cuối năm, bài hát Lụt từ ngã tư đường phố!), họ vẫn không xin được ngân sách để đầu tư. Không có máy thì mô hình có hiện đại đến đâu cũng chỉ là để ngắm. Tác giả bài báo này nên đến Trung tâm dự báo tìm hiểu thông tin, chứ viết lung tung thế này, bạn đọc có chê lại bảo, không có tinh thần xây dựng!

  2. Thưa GS. Sơn,
    Dĩ nhiên, em không đủ tầm để discuss vấn đề này. Chỉ là em là một sinh viên khá hoài bão, nên hiểu rất rõ những hạn chế nhất định trong nước nhà. Những hạn chế đủ lớn để tự cảm nhận được là ở trong nước khó mà làm cái gì cho ra hồn cả. Và đành phải bươn ba ra nước ngoài làm việc dù vất vả.
    Em có một số comment vền nền khoa học nước nhà thế này:
    1. Không hề thiếu tiền, dĩ nhiên không thể so được với lương người làm khoa học ở Mỹ, nhưng so với mức sống – mặt bằng chung của đất nước Việt Nam mình.
    2. Thiếu motivation. Quan trọng hơn cả, chúng ta hoàn toàn thiếu động lực nghiên cứu. Chúng ta cố gắng thật nhiều paper, thật nhiều và thật nhiều chỉ để CÓ PAPER. Các hội nghị rất lởm (un-ranked). Việc lên PGS-GS, đối với CNTT chỉ cần có các paper trên là đã được phong. Đối với các ngành khác dường như chỉ cần paper … tiếng Việt cũng được phong làm GS. Các bài báo viết ra thì không đủ tin cậy để người ta tham khảo, thực nghiệm thì sai (hay thậm chí report sai). Cũng tự hỏi, paper rank A để làm gì, khi chỉ cần un-ranked là đươc phong GS, trong khi paper rank A 1 năm được 1-2 bài là cùng, và cũng không có favor gì cho chuyện đấy đặc biệt cả. Đi hội nghị thì thêm tốn tiền fund, thà đi trong nước cho rẻ!!!

    3. Em không biết đặt title này là ntn – Giống như câu Einstein từng bảo (e k nhớ rõ original text), thấy, hiểu mà không hành động gì mới gọi là nguy hiểm. Em làm bên xử lý ngôn ngữ tự nhiên, 20 năm nay VN làm gì có paper ở 1 hội nghị Rank A/B thế giới. Họa chăng được một vài người và vài năm mới có 1 BÀI. Nhưng các nhà khoa hoc nước nhà, thủ phần với cái reason 2.

  3. Chủ đề này có vẻ hot gần đây:
    http://vnexpress.net/gl/khoa-hoc/2013/01/dung-voi-chi-trich-cac-nha-khoa-hoc-viet-nam/
    Các bác này chưa từng ra nước ngoài để thấy 1 điều đau khổ là phần lớn Giảng viên ở Vn không những không xuất bản được báo quốc tế mà kiến thức còn không ra hồn, thua cả những sinh viên giỏi ở các ĐH lớn. Nghiên cứu khoa học là một cái gì đó “nghiêm túc” còn sót lại ở GD ĐH không thì học đại học có khác gì học cấp III thầy đọc trò chép. Chỉ lý do đó không đã cần thấy phải giữ nó rồi chưa nói nhiều đến ứng dụng.
    Môi trường nghiên cứu là môi trường khắc nghiệt, đòi hỏi phải có sự nghiêm túc, có đạo đức, có lòng kiên trì. Chỉ nói riêng việc luyện được cho một người công dân những đức tính này thì tự thân nghiên cứu khoa học cũng đã đáng để duy trì.
    Không phải tri thức nào cũng có thể thể hiện ra lời, ra công thức, ra sách vở. Việc nghiên cứu khoa học nghiêm túc cho ta một nguồn tri thức khác nằm trong chính mỗi con người tham gia nghiên cứu khoa học, cả GS lẫn NCS. Muốn chuyển giao công nghệ thì trước hết cần phải có những con người như vậy (biết cả lý thuyết lẫn thực hành) đã, không thì người ta giao gì nhận nấy thì ăn quả lừa như chơi (công nghệ, máy móc lạc hâu, không có đội ngũ duy tu bảo dưỡng công nghệ, cải tiến…v.v.)

  4. Tác giả Hoàng Tuân thật ấu trĩ và thiển cận. Nhưng sự nguy hại cho lớp trẻ khi đọc những bài báo và những nhận định sai lầm được ngụy trang bởi ý thức “mỳ ăn liền” như thế không phải ai cũng nhận ra. Thế nên, GS Sơn và các bác (những người làm khoa học) cũng cần có những ý kiến xác đáng đăng trên các báo chính thống, dù vô chấp với tác giả Hoàng Tuân.

  5. Em nghĩ phát triển khoa học có liên hệ mật thiết với phát triển con người. Bản chất những người làm khoa học cơ bản có lẽ là đam mê sự thật, hướng đến chân lý. Những người như thế, dù khác nhau, nhưng luôn là vốn quý của một quốc gia. Nếu đất nước có được thật nhiều những người như thế, thiết nghĩ, sẽ là một điều thật sự may mắn. Chúng ta nếu chỉ ăn quả mà không gieo một vài hạt giống, có lẽ đến lúc chẳng còn quả mà ăn.

  6. Tôi nghĩ là anh Sơn và các nhà khoa học nên tạo lập mối quan hệ tốt đẹp với các vị lãnh đạo ở bộ khoa học, trung tâm khoa học quốc gia rồi cố vấn cho họ. Còn thì dân phát biểu linh tinh thì kệ người ta thôi. Nhiều khi là chuyện ghen ăn tức ở của những người ở các ngành khác thôi. Người ta có nhiều thời gian rỗi việc lắm.

    • Tôi nghĩ là về mặt nào đó, ý kiến của những người có hiểu biết tốt cũng rất cần cho dư luận. Không nên xem thường dư luận trái chiều, cho dù nó ấu trĩ, vì chính nó sẽ tác động đến chính sách KH-CN thông qua hệ thống chính trị. Nếu tôi nhớ không nhầm thì những chính sách như dẹp bỏ trường chuyên lớp chọn một cách thiếu cân nhắc hay cấm đoán dạy thêm này nọ một cách cực đoan một phần là do sức ép của dư luận thiếu hiểu biết tác động lên quốc hội, cộng thêm phát biểu của những đại biểu quốc hội thiếu hiểu biết về chuyện này.

      Ngoài ra tôi nghĩ bản thân nhận thức cũng là một lý do để nhiều người có những suy nghĩ kiểu này, chứ không hẳn chỉ là chuyện ghen ăn tức ở. Như ông Trung Hà chẳng hạn, ông ấy nhận thức như thế, chứ chắc ông ấy cũng chẳng ghen ăn tức ở gì. Do vậy phản biện lại các ý kiến đó cũng là một cách để nâng cao nhận thức của số đông.

  7. Không thể hôm nay chú trọng ngành than, ngày mai tập trung vào công nghệ sinh học. Những bàn luận manh mún vào thời điểm này không thể dẫn đến một giải pháp hữu hiệu.

    Rất đồng ý với tác giả là chính phủ Việt Nam cần có một chiến lược phát triển bền vững và dài hạn. Cá nhân tôi cho rằng chính phủ cũng đã và đang làm điều này cho vấn đề xã hội, kinh tế, và khoa học. Vấn đề lớn nhất vẫn là đào tạo, sử dụng, và đãi ngộ nhà khoa học. Đối với nhà khoa học, không gì quan trọng hơn là được làm nghiên cứu. Cá nhân tôi không đặt nặng vấn đề nghiên cứu trong tình hình hiện này của khoa học Việt Nam bị tụt hậu so với các nước trong khu vực về mặt thiết bị hay chuyên môn. Điều đó rất bình thường sau hơn 20 năm cấm vận. Hàn Quốc, Nhật Bản, hay Trung Quốc, họ chỉ cần 10 năm là đủ bắt kịp trình độ trung bình, nếu không nói là tiên tiến của thế giới về khoa học. Vậy vấn đề của khoa học Việt Nam nằm ở đâu. Câu trả lời vẫn là “con người” và sự hoạch định của chính phủ. Tôi xin kể rất sơ lược một câu chuyên tôi đã đọc về một chương trong cuốc sách hội thảo hạt nhân của một nhà khoa học hạt nhân Nhật Bản: Câu chuyện tvề năng lực nghiên cứu hạt nhân của Nhật Bản sau thế chiến thứ hai. Nhật Bản sau thế chiến thứ hai rất tối kị về nghiên cứu hạt nhân do nhiều điều, trong đó có ảnh hưởng về hai vụ ném bom ở Nagasaki và Hiroshima. Vì vậy, khoa học hạt nhân của Nhật Bản tụt hậu vài chục năm so với phương Tây. Nếu không có sự cố gắng, đồng tâm của các nhà khoa học hạt nhân của Nhật, sự hoạch định chính sách hạt nhân của Nhật, liệu người Nhật có giải Nobel về lãnh vực hạt nhân, năng lực điện hạt nhân, … Chỉ sau 10 năm giới khoa học hạt nhân Nhật Bản đã tự hào rằng đã bắt kịp và vượt trình độ nghiên cứu hạt nhân của Châu Âu và Mỹ trên một số khía cạnh, Câu chuyện trên tôi kể cho thấy vấn đề con người (ta có một từ rất hay là Đồng Chí và hoạch định chính phủ rất quan trọng. Mỗi quốc gia mỗi vấn đề khác nhau nhưng có chung một vấn đề cốt lõi: phát triển khoa học để làm đòn bẩy và sự phát triển kinh tế, sức mạnh của quốc gia đó. Chính phủ Việt Nam và ban cố vấn khoa học cho chính phủ đều nhận thức rõ tầm quan trọng của khoa học và cố gắng thúc đẩy nó. Quan điểm cá nhân tôi là vấn đề ở đây là vấn đề con người. Nhà khoa học phải được ở đúng chỗ của nhà khoa học, người quản lý phải ở đúng chỗ của người quản lý, Có vậy mới tạo ra một cơ chế khoa học minh bạch, không có việc xin cho. Đề tài nghiên cứu phải được đánh giá bởi chính các nhà khoa học, người quản lý phải được tư vấn bởi các nhà khoa học chứ không phải ngược lại. Chính phủ phải hoạch định nhất quán lộ trình khoa học được tư vấn bới các nhà khoa học có uy tín, đầu đàn trong từng lãnh vực trong nuớc, và nếu cần (tôi nghĩ là rất cần trong tình hình hiện nay) là các nhà khoa học Việt Nam có uy tín trên thế giới.
    Theo quan điểm cá nhân tôi, khoa học ứng dụng và khoa học cơ bản đều là nghiên cứu. Trong nghiên cứu ứng dụng sẽ thấy khoa học cơ bản và trong nghiên cứu cơ bản sẽ thấy được tiềm năng ứng dụng. Nhà khoa học giỏi sẽ phát triển tuần tự nghiên cứu của họ theo cả hai hướng đó. Theo tôi, vấn đề không phải là khoa học ứng dụng hay khoa học cơ bản, sự tụt hậu khoa học Việt Nam hay chính phủ Việt Nam. Vấn đề toàn bộ nằm ở con người làm khoa học và quản lý khoa học. Nói đích xác ra là các nhà khoa học chưa thực sự vì nghiên cứu khoa học mà còn vì sự đấu đá, ganh tỵ, lạm dụng quyền lực quản lý khoa học để làm khó dễ các nhà khoa học với nhau. Vấn đề dẫn tới sự bè phái trong khoa học, nói chính xác là các nhóm lợi ích khoa học, lấy khoa học làm đường tư lợi. Nhóm lợi ích khoa học như vậy rất khó khăn để xác định, nó tồn tại một cách vô hình nhưng tạo các vấn đề hữu hình, làm xói mòn niềm tìn của các nhà khoa học trẻ, về lâu về dài khiến họ chán nản, bỏ khoa học nếu như còn tiếp tục sống trong nuớc, hoặc tìm cách ra nuớc ngoài tiếp tục con đường nghiên cứu. Xin đừng trách tại sao các bạn trẻ không cống hiên, tại vì sự cống hiến của họ sẽ công phá thành trì của các nhóm lợi ích khoa học. Họ không có nhiều lựa chọn. Một là ra đi, hai là gia nhập nhóm lợi ích khoa học đó. Cá nhân tôi lựa chon ra đi, khi nào tôi đủ tiềm lực kinh tế cho mình thì tôi sẽ trở về, tự làm nghiên cứu cho chính nơi mình sinh ra bằng chính tiềm lực của mình. Đó cũng là một cách cống hiến, nhưng hơi mất thời gian đi vòng một chút.
    Houston, TX

    • “Cá nhân tôi lựa chon ra đi, khi nào tôi đủ tiềm lực kinh tế cho mình thì tôi sẽ trở về, tự làm nghiên cứu cho chính nơi mình sinh ra bằng chính tiềm lực của mình. Đó cũng là một cách cống hiến, nhưng hơi mất thời gian đi vòng một chút.” —- Khi nào thì anh mới cho là đủ tiềm lực kinh tế ? Khi nào anh mới về nước cống hiến, 40 tuổi hay 60-70 tuổi ? Em có thằng bạn bên Pháp, nó nói làm vài năm kiếm chút tiền về mở cửa hàng buôn bán để giải quyết khâu thu nhập. Nó nói làm thế thì sẽ chả phải sợ ai cả và có thể yên tâm nghiên cứu. Và em có nói với nó rằng mày chả sợ ai thì chả ai sợ mày, hòa cả làng. Thế mới thấy nếu chúng ta nể nang nhau hoặc im lặng kiểu “không thèm chấp” thì cái xấu nó vẫn ngang nhiên tồn tại, và nhiều người trẻ sẽ là nạn nhân của nó. Quan điểm của em là ăn mì tôm cũng được miễn là phải thắng thắn phê phán cái xấu và kiên quyết không chấp nhận cho cái xấu tồn tại.

      • Theo tôi, bạn Khang Nguyen có quyền có con đường của mình. Nhìn thấy cái xấu tất nhiên là khó chịu, nhưng nếu gặp cái xấu nào cũng chống thì chẳng có thời gian làm bất cứ việc gì.

  8. Nếu quả thật là làm được cái gì đó về các phương trình của vũ trụ thì rất nên ủng hộ. Nếu chỉ “lao đầu” thôi, có lẽ không nên khuyến khích :-))
    Ở các nước phát triển có một sự đồng bộ nên khoa học cơ bản mới có tác động đến công nghệ, đời sống và xã hội được. Lấy một ví dụ: một trường ĐH ở đồng bằng sông Cửu Long, có 3 người làm Vật lý lý thuyết muốn mở chương trình đào tạo Vật lý lý thuyết thì có nên ủng hộ không. Tôi nghĩ là không. Cứ từ đó mà suy ra là Việt Nam có nên phát triển về khoa học cơ bản hay không. Túm lại nếu người giỏi như thầy Hiệu ngày xưa hay GS Sơn bây giờ về nước thì nên phát triển, nếu không thì không nên. Cho dù là lấy tỷ lệ giữa đầu tư cho khoa học cơ bản và công nghệ như ở các nước tiên tiến đi nữa, có lẽ đầu tư cho khoa học cơ bản ở Việt Nam đang ở mức quá cao, đầu tư cho công nghệ đang ở mức quá thấp

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s