Category Archives: Uncategorized

Chờ tin về boson Higgs

Hôm nay lúc 20h giờ Hà Nội (14 giờ ở Geneva) sẽ có một seminar về hạt Higgs tại phòng thí nghiệm CERN. Hạt Higgs có một vai trò rất quan trọng trong vật lý hạt cơ bản, liên quan đến cơ chế làm cho các hạt cơ bản có khối lượng. Đây là hạt cuối cùng trong mô hình chuẩn chưa được tìm ra. Có tin đồn rằng trong seminar này người ta sẽ đưa ra những bằng chứng (nhưng chưa phải hoàn toàn thuyết phục) là hạt Higgs có tồn tại và có khối lượng khoảng 125 GeV.

Seminar sẽ được truyền trên net: http://webcast.web.cern.ch/webcast/

Glashow (giải Nobel vật lý năm 1979) viết như sau khi được hỏi về hạt Higgs:

They said when the collider goes on
Soon they’d see that elusive boson
Very soon we shall hear
Whether Cern finds it this year
But it’s something I won’t bet very much on.

Tiên đoán của các nhà vật lý khác có thể xem ở: http://www.guardian.co.uk/science/blog/2011/dec/06/is-higgs-boson-real

Trí tưởng tượng

Đố biết ai nói câu này:

“Khả năng này [trí tưởng tượng] là đặc biệt quý giá. Thật sai lầm nếu nghĩ rằng chỉ có nhà thơ mới cần đến nó. Đó là một thành kiến ngớ ngẩn! Cả toán học cũng cần tới trí tưởng tượng, nếu thiếu nó thì thậm chí không thể tìm ra được phép tính vi phân và tích phân.”

Nguyên bản xem ở đây.

Neal Koblitz phỏng vấn Ngô Bảo Châu

Giáo sư Neal Koblitz (khoa toán Đại học Washington) là một người được nhiều người Việt Nam biết đến, đặc biệt là trong giới khoa học. Ông sang Việt Nam lần đầu tiên năm 1978 và tiếp tục gắn bó với Việt Nam đến bây giờ. Ông cùng với vợ, GS Ann Koblitz (Arizona State University), là người sáng lập ra quỹ Kovalevskaya; quỹ này hàng năm trao giải thưởng Kovalevskaya cho những phụ nữ xuất sắc trong khoa học. Quỹ này hoạt động tại Việt Nam, Cuba, Mexico và một số nước khác.

GS Neal Koblitz phỏng vấn GS Hoàng Tụy năm 1989 (ảnh lấy từ hồi ký của GS Koblitz, Random Curves)

Sau khi GS Ngô Bảo Châu được huy chương Fields, GS Koblitz đã có một cuộc phỏng vấn. Cuộc phỏng vấn này được đăng trên The Mathematical Intelligencer, 33, 46 (2011). Bài báo đề cập đến nhiều vấn đề, trong đó có Viện Toán Cao cấp, giáo dục ở Việt Nam, vai trò của phụ nữ trong toán học, v.v. Tôi thấy nó không đơn thuần là một cuộc phỏng vấn, mà có thể coi là một cuộc đối thoại giữa hai nhà khoa học có nhiều gắn bó với Việt Nam. Tiếc rằng bài báo này không đọc miễn phí được, trừ khi thư viện của bạn đặt mua. Tôi xin trích lại ở đây một số đoạn ngắn trong cuộc phỏng vấn:

NK: Deputy Prime Minister Nguyễn Thiện Nhân has said that he hopes that you will become the head of the new Advanced Mathematics Institute in Hanoi that is being planned. Will you agree to take on this responsibility?

NBC: There will be a Board of Directors, and it seems likely that I will serve on it.


NK: What are the objectives of the new institute, and how will it be different from the Hanoi Mathematical Institute?

NBC: We will try to attract Vietnamese mathematicians from abroad as well as mathematicians of other nationalities to our institute to work on projects, with preference for joint projects with Vietnamese mathematicians. The visits can be for 3 months, 6 months, or a year. There will be no permanent members except for the Board of Directors.

….
NK: Traditionally, Vietnam has been much stronger in the theoretical areas of mathematics than in the applied areas. What should be done to improve research in applied areas? How much of the focus of the new institute will be on applied research?

NBC: We will very much welcome joint projects between mathematicians and researchers in related areas such as computer science, theoretical physics, biology, economics, and so on.


NK: Often the most competitive international applicants to U.S. Ph.D. programs are students who have already obtained a Masters degree in their own country. But Vietnam does not support strong Masters level programs in mathematics. For example, Masters students cannot easily find financial support for their studies. Are there any plans to expand Masters programs in mathematics at Vietnamese universities (with financial support for students), and will the new Advanced Mathematics Institute give Masters degrees?

NBC: I agree that it is very important to develop good Masters level programs in Vietnam. We already have an International Masters program run jointly by the Institute of Mathematics and the Hanoi Pedagogical University (HPU). We recruit around 20 students each year. They spend the first year in Hanoi and the second year in Europe, and are supported by fellowships from the Ministry of Education. Upon graduation they are granted Masters degrees from the European university where they spend their second year. We would love also to be able to grant them our own Masters degrees, but this is impossible under the current administrative rules. The new Advanced Mathematics Institute will not have its own Masters program, but obviously we will encourage its members to give lectures in the existing Masters programs as well as participate at a modest level in the undergraduate programs at VNU and HPU.


NK: In an interview with the Vietnamese newspaper Tuổi Trẻ, you said that one of your top priorities will be giving opportunities to young people. However, at present there are very few activities in Vietnam that put senior Vietnamese scientists in direct informal contact with young people. When in school and even at the university, Vietnamese students have very little idea of what it’s like to be a researcher. They do not have role models, unless their own parents are scientists. The danger is that the youth will be influenced entirely by imported youth culture that comes from the mass media, and will not carry on the scholarly, scientific, and mathematical traditions of Vietnam’s older generations. What ideas do you have for transmitting these traditions to the younger generation, and stimulating their desire to lead the life of a mathematician or scientist?

NBC: I agree with you that we need to do more to popularize science to the younger generation, either by direct contact or through the mass media. I have been agreeably surprised to find that the Vietnamese mass media are quite receptive to our message.

Ấn Độ

Mấy hôm trước tôi có dịp thăm hai cơ sở nghiên cứu của Ấn Độ: Tata Institute for Fundamental Research (TIFR) ở Mumbai và Indian Institute of Science ở Bangalore. Khi được mời sang Ấn Độ tôi nhận lời ngay vì Ấn Độ là tổ quốc của nhiều người tôi rất phục, ví dụ Subrahmanyan ChandrasekharMahatma Gandhi. Tôi  học hỏi được thêm nhiều qua chuyến đi này.

Sự phát triển kinh tế của Ấn Độ có phần nào giống của Việt Nam. Từ độc lập đến khoảng 1990 họ theo mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa, nhưng từ khoảng 1990 đến nay Ấn Độ tiến hành cải cách kinh tế và hiện nay nước này là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới. Hiện nay GDP trên đầu người của Ấn Độ vẫn còn rất thấp (theo bảng này thì chỉ nhỉnh hơn Việt Nam một chút), nhưng nền khoa học của họ rất phát triển.

Cảm giác của tôi khi thăm viện TIFR là sự chuyển đổi từ kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường có lẽ đã diễn ra khá thuận lợi đối với Viện này. Những tòa nhà kiểu khu tập thể xây những năm 60-70 ở Nga và Việt Nam tồn tại một cách hài hòa bên cạnh các công trình kiến trúc hiện đại.

Cây baobab trong viện TIFR

Cuộc hội thảo tôi tham gia ở TIFR chỉ có ba ngày nhưng đã lôi kéo được nhiều nhà khoa học ở Mỹ và Anh. Nhiều người trong số họ (phần lớn không phải là gốc Ấn độ!) trước đây đã là postdoc ở TIFR. TIFR lôi kéo được nhiều postdoc phương Tây: thường họ ở đây dưới một năm, sau khi tốt nghiệp PhD và trước khi làm postdoc ở nơi khác. Nhưng chỉ mấy tháng ở Ấn Độ cũng đủ làm cho họ gắn bó nhiều với đất nước này.

Khoa học cơ bản  ở Ấn Độ có uy tín cao trong xã hội trước khi “đổi mới”. Có lẽ ở Việt Nam trước đây cũng đã từng như vậy. Nhưng ở Việt Nam, sự mở của về kinh tế đi cùng với sự giảm sút về uy tín của khoa học cơ bản. Nhiều doanh nhân Việt Nam nay không tin khoa học cơ bản là cần thiết, và phần lớn các sinh viên xuất sắc nhất cũng đi học các ngành khác. Tôi cảm thấy rằng, khác với ở Việt Nam, uy tín của khoa học cơ bản ở Ấn độ không những không giảm sút khi kinh tế của họ chuyển sang kinh tế thị trường, mà còn tăng lên. Khi tôi sang Ấn Độ, nhiều người nói với tôi là tinh thần (morale) của những người làm khoa học ở đó cao hơn bao giờ hết, cả vì lương của họ mới được tăng đáng kể và cả vì chính phủ đang đầu tư mạnh mẽ vào khoa học. Cảm giác chung khi gặp giới khoa học ở đây là họ lạc quan về tương lai, “ngày mai sẽ tốt hơn hôm nay”, một cảm giác mà ở phương Tây không phải lúc nào cũng gặp.

Ở Bangalore tôi thăm Viện khoa học Ấn Độ (Indian Institute of Science). Đây là một viện rất “tinh túy” với lịch sử 100 năm nghiên cứu và đào tạo trên đại học. Nhưng từ năm hoc 2011-2012 họ bắt đầu có chương trình đào tạo cấp đại học. Với chỉ tiêu nhận vào chỉ hơn 100, hiện nay họ đã có hơn 10000 học sinh nộp đơn! Một phần, chắc là do dân số Ấn Độ cao, nhưng sự quan tâm của công chúng vào các ngành khoa học cơ bản chắc chắn là rất đáng kể.

Con đường rợp bóng cây trong Viện khoa học Ấn Độ (Bangalore)

Theo báo chí Mỹ thì mức độ tham nhũng ở Ấn Độ rất cao. Tôi có hỏi một giáo sư Ấn Độ về vấn đề này. Ông ta khẳng định đây là một vấn đề rất nghiêm trọng, nhưng nói rằng ông ta vẫn lạc quan vì Tòa án Tối cao Ấn Độ là một cơ quan chống tham nhũng rất mạnh mẽ và cũng là một cơ quan rất có quyền lực. Cũng phải nhấn mạnh là Tòa Án ở Ấn Độ là một trong 3 nhánh độc lập của quyền lực. Điều này không khỏi làm tôi suy nghĩ. Muốn chống tham nhũng thì phải có cơ chế để chống, phải có cơ quan vừa độc lập, vừa có quyền và vừa muốn làm điều đó. Tôi mong vào một ngày không xa tôi cũng có thể nói một cách lạc quan như vậy về Việt Nam.

Tôi có nhận xét là người Ấn Độ về nước làm việc rất nhiều (sau khi ở nước ngoài), với lương thấp hơn nhiều lương họ được trả ở phương Tây. Trong khi đó, ở Trung Quốc có rất nhiều vị trí với lương cao ngang ở Mỹ, nhưng chỉ lôi kéo được những người gốc Trung Quốc về làm vài tháng trong một năm thôi, chứ họ không về hẳn (đó là quan sát trong ngành hẹp của tôi thôi). Tôi có hỏi một giáo sư về vấn đề này, thì ông ta nói: đó là vì Ấn Độ có dân chủ. Câu trả lời của ông cũng làm tôi suy nghĩ nhiều. Đôi khi người ta nói dân chủ chỉ là một thứ mà khi kinh tế phát triển lên cao thì dân chúng mới đòi hỏi. Nhưng ở đây ta có một thí dụ rõ ràng về tầm quan trọng của dân chủ ở các nước còn đang ở mức phát triển thấp. Cũng có thể tưởng tượng được là trong cuộc sống hàng ngày thì chế độ chính trị có thể không quan trọng lắm, nhưng trong quyết định lâu dài của một con người, có ảnh hưởng đến tương lai của con cái người ta, thì điều này lại thành rất quan trọng. Tôi nghĩ là Trung Quốc bị thiệt thòi so với Ấn Độ về phương diện này, nhưng bù lại họ có rất nhiều tiền. Những gì diễn ra thời gian gần đây ở Việt Nam không khỏi làm tôi lo lắng. Tôi thấy con đường của Việt Nam giống Trung Quốc hơn Ấn Độ, nhưng tôi tự hỏi Việt Nam làm thế nào có được nhiều tiền như Trung Quốc để lôi kéo người về?

Bangalore sẽ là nơi cư trú của một viện khoa học mới của Ấn Độ: International Center for Theoretical Sciences (ICTS). Viện này được xây dựng theo mô hình của ICTP ở Trieste, Ý và Kavli Institute for Theoretical Physics ở Santa Barbara, Mỹ. Nó sẽ là nơi giao tiếp giữa khoa học Ấn Độ và khoa học thế giới, và là nơi giao tiếp giữa các ngành khoa học ở Ấn Độ. Cảm giác nổi bật là Viện này được xây dựng hết sức bài bản, với sự tham gia của cộng đồng khoa học Ấn Độ và thế giới.

Trong cuốn sách giới thiệu về Viện ICTS tôi đọc được một số câu rất đáng suy nghĩ:

“Fundamental research can only be judged by world standard. It is worthwhile only if one adds, in however small a way, to the sum total of human knowledge.” – Homi Bhabha

“A scientific institution, be it a laboratory or academy, has to be grown with great care like a tree… and the few outstanding ones always take at least 10 to 15 years to grow.” – Homi Bhabha

“If a country neglects basic research it is doomed to be always a follower and not a leader, and it will lose its most talented young scientists who will go elsewhere. Healthy science is like a healthy tree: you cannot destroy the roots and hope that the branches will flourish” – David Gross

(Homi Bhabha là một nhà vật lý nổi tiếng người Ấn Độ. David Gross được giải Nobel vật lý, là giám đốc viện KITP ở Santa Barbara và là một trong những người đóng góp nhiều ý tưởng cho viện ICTS.)

Nếu có dịp tôi sẽ viết về một chuyến đi Trung Quốc của tôi gần đây.

Nói chuyện khoa học

Bạn nào quan tâm có thể xem slides của buổi nói chuyện khoa học cho công chúng do tôi trình bày ở Wheeler Opera House, Aspen, Colorado trong khuôn khổ một hội nghị ở Aspen Center for Physics.